 TNc: Nhiều người biết đến Nhà báo Bùi Hoàng Tám với những bài viết sắc sảo, những cuộc phỏng vấn nảy lửa hay là một Nhà thơ của chiếu rượu với những bài thơ nổi tiếng “Vợ tôi…”, “Bài thơ về cái tivi” “Lá mơ lông”, “Cầu lông”… Nhân Ngày Thơ Việt Nam 2010, trannhuong.com xin trân trọng giới thiệu một Bùi Hoàng Tám – Nhà thơ – Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam với 13 bài thơ được tác giả cho là “đặc sản như lợn bản”: Nữ thần Tự do đi du lịch ba lô, Người say rượu hát quốc ca, Thơ tình viết trên chiếu bạc, Về đi – Vọng phu, Có ai đó không?, Người kéo vó, Rượu thềm, Lời thề Mùa Đông, Lệch nhịp, Trời hành, Đi ăn cưới vợ cũ, Phận cỏ, Ngày 01 tháng 10 năm 1967.
Nữ thần Tự Do du lịch ba lô
Nữ thần Tự Do đi du lịch ba lô Cán bộ Hải quan hỏi: - Bà sinh ở đâu? - Ta sinh ở Pháp - Bà sống ở đâu? - Ta sống ở Hoa Kỳ Cán bộ hải quan ghi: “Nữ thần Tự Do người Hoa Kỳ gốc Pháp”…
Và Tự Do đã đến quê tôi vào một ngày bão táp!
Có ai đó không?
Ngày cô Tấm bị đọa đày Có ai đó không? Lúc Thạch Sanh mắc mưu Lý Thông Có ai đó không?? Buổi Thị Kính bị oan Có ai đó không???
Cô Tấm gửi hồn bang bang cho cá bống Thạch Sanh tích tịch tình tang nương phận cây đàn Thị Kính na mô chờ cõi Niết bàn Con người khi đó ở đâu? Con người khi đó ở đâu!???
Người say rượu hát quốc ca
Chai rượu vơi đi Nỗi buồn đầy lên Đổ rượu vào lòng Đổ dầu vào lửa Người uống rượu như nắng chiều gõ cửa Mặt rượu căng Vò nhàu mặt người
Uống đi Chén buồn Uống đi Chén vui Quả khế còn chua Quả sung còn chát…
Người uống rượu một mình chợt hát Quốc ca!
Người kéo vó
Còng vó cong Như bốn ngón tay Thả vào dòng sông Ngàn con mắt Khẽ thôi Khẽ thôi Không gian lặng ngắt Chợt xôn xao Con cá bị lừa
Sào vó cong Trở lại phía bờ Sợi dây thừng Dài căng sợi cước
Nào lên Nào lên Nước rỏ vào mặt nước Người kéo vó còng lưng Dáng một con mồi!
Dòng sông triền miên trôi Cánh đồng tràn man gió Người ở trên bờ Cá nằm trong giỏ Mặt trời Lơ lửng Ở hai nơi!
Rượu thềm!
Đêm! Gần mưa Trăng tán Dơi bay Lơi lả Đêm. Muỗi ùa đến ồn ào vỡ chợ Trải chiếu ra Ta nâng cốc Rượu thềm! Ta uống rượu trong vầng trăng khô khát Uống lời ru ngái ngủ Ơi à!.. Ta uống cả cánh cò thơ mộng Uống bóng mình Đi đón Mưa sa! Ta uống mười lăm năm đời Kiều lưu lạc Thị Kính đa tình Đi tu ép xác Ta uống tiếng mầm cây táo tác Gọi xuân về tơi tả trong mưa!
Về đi - Vọng phu!
Lòng chung thủy trở thành nhảm nhí Trước thiêng liêng số phận một con người
Về đi - Vọng phu! Mọi hi vọng đều qua rồi Người đi không thể về được nữa Về đi em Trời quê mình vốn nhiều giông gió Em và con mỏng manh chống trả thế nào!?
Về đi em Người đời yêu nhau người ta chờ nhau Dẫu là đá Dẫu không còn là đá Nhưng con em trên tay em đang đói lả.
Em hóa đá vì chồng Con hóa đá vì ai? Em hóa đá vì chồng Con Hóa Đá Vì Ai…!?
Thơ tình viết trên chiếu bạc
Chỉ có là sấp ngửa Thế thôi! Anh đoán chẵn Sao em về cửa lẻ Buồn như thể Và vui như thể…! Anh sấp ngửa thơ anh Anh chẵn lẻ đời mình
Là nhà thơ Không khỏi đa tình Canh bạc cuối Anh nhờ em mở bát Anh còn sống Vì anh còn khát Dẫu biết mình Tay trắng Lúc tàn canh!
Anh chỉ là ngọn cỏ Gần đất nên xa trời Đan vào nhau để sống Kết vào nhau để tươi
Tự anh nhận ánh nắng Tự anh che cho anh Tự anh hút mật đất Mà xanh cho trời xanh
Em ơi anh là cỏ Nên ngại chi bụi bờ Những buồn vui nhân thế Anh gửi vào trong thơ
Anh chỉ là ngọn cỏ Một điều rất bình thường Nhưng khi cần em ạ Cỏ dựng thành biên cương
Anh chỉ là ngọn cỏ Một điều rất giản đơn Nhưng em ơi vắng cỏ Lấy gì xanh núi non.
Vợ cũ đi lấy chồng Mời mình về ăn cưới Mình bàn với vợ mới Có đi không mình ơi!
Vợ mới cười rất tươi Chị mời thì nên đến Hai đứa mình cùng đi Để tỏ tình thân mến
Vợ cũ mặc rất đẹp Nhìn thấy, chạy đến chào Chồng mới của vợ cũ Ra tận nơi đón vào
Ôi cuộc tình rổ rá Mà cưới vui bất ngờ Mọi người tranh nhau hát Mình cũng lên đọc thơ
Trong làn khói lơ mơ Mình ghé tai hỏi vợ Nếu cuộc tình này vỡ Mình có mời anh không?
Lời thề Mùa Đông
Bắt đầu từ một mùa đông Anh tôi ra trận rồi không trở về Cũng từ một buổi chiều quê Chị tôi đã nhận Lời thề Mùa Đông Cũng là phận gái chờ chồng Người còn hóa đá – Chị không hóa gì! Đá còn đợi bước thiên di Còn con để bế - Chị thì chịu không! Núi còn hòn vợ, hòn chồng Chị tôi ôm mối chờ mong bạc đầu Cái ngày tôi bước qua cầu Chị không khóc, sợ làm nhàu áo tôi
Bây giờ chị đã về giời Thắp hương lạy chị - Lạy lời Mùa Đông
Lệch nhịp
Tiếc mình tuổi chẳng còn xanh Để em - Giờ lại hóa thành người ta Giận mình trẻ chẳng trồng na Giờ nhìn trái chín thơm qua ngõ người Trớ trêu, chắc lép là trời Bắt tôi lệch nhịp với người tôi yêu Em là sáng, tôi là chiều Ban trưa ở giữa với nhiều nhớ mong Biết rồi em sẽ lấy chồng Tôi về sống với tình không một đời
Thương chồng em, thương vợ tôi Và bao đôi lứa trên đời lệch nhau
Trời hành
Một đời xo xúi vì yêu Trái tim đập vỡ những chiều vu vơ Một đời mộng mộng, mơ mơ Một trời đợi đợi, chờ chờ, mong mong Nhìn đâu cũng thấy hoa hồng Phố đông người thế, ngỡ không thấy người Đã đi quá nửa cuộc đời Trái tim cứ đập như thời trẻ con Tự dưng giận, tự dưng hờn Đang vui vô cớ bỗng buồn vô duyên Thường chờ đợi cái không tên Thường mơ mộng đến những miền không đâu Vẫn nhìn ngộ nhận về nhau Vẫn vô tư nói những câu vô tình
Tình yêu là thứ trời hành Bắt người tóc bạc hóa thành trẻ con
Là một ngày bắt đầu bằng từng đợt sương muối rơi mù mịt đất trời Một ngày lặng yên chỉ có tiếng con chim chích chòe hót lên chào buổi sáng Bố mẹ tôi và những người dân làng vác quốc ra đồng Em Dướng, em Hường tôi ở nhà cùng với những đứa bé, người già trông nhà và quyét bếp Một buổi sáng bình thường như muôn ngàn buổi sáng ở khắp nơi trên mặt đất Nhưng buổi sáng này – Một buổi sáng chiến tranh Khi máy bay Mỹ từ biển Đông kéo đến từng đàn Rú lên rách trời và bom rơi nát đất Những quầng lửa bốc lên từ căn nhà tranh còn nhiều chỗ dột Để máu, để xương cùng tro than và bùn đất trộn nhào
Khi trái bom đầu tiên ném xuống trước cửa nhà tôi mảnh của nó đã chặt đứt chân em Hường khi em đang chơi ô ăn quan cùng em Dướng Hai mươi năm sau bố tôi còn nặn tượng em Dướng cõng em Hường lủng lẳng một khúc chân Các em tôi đã dìu nhau vào được một căn hầm nơi đấy đã có 7 người toàn người già và trẻ nhỏ thì một trái bom thứ hai rơi xuống nóc hầm Người đàn bà láng giềng bữa ấy ra đồng trở về đã mất tất cả cửa nhà, chồng và những đứa con hóa điên bỏ làng đi biệt tích Hơn bốn mươi năm – Ngày giỗ em tôi và ngày giỗ dân làng trong khói hương nghi ngút của 70 căn nhà với 154 người chết ngày Mồng một tháng Mười năm Một ngàn chín trăm sáu mươi bảy vẫn như còn phảng phất đâu đây mùi khét lẹt của những thân thể bị thui cháy Những căn nhà hai ba bốn tầng mọc lên vẫn không xóa được dấu tích nơi những trái bom rơi còn hằn vào mặt đất Cần ăng ten với dây rợ lằng nhằng gợi lại hình ảnh một bộ ruột người với đủ cả phèo phổi, dạ dày vắt dọc ngọn đa và đàn quạ đen nháo nhác bay lên bay xuống Bốn mươi năm là khoảng cách khá xa nhưng chưa đủ để xóa đi nỗi đau quá lớn. Người đàn bà bỏ làng ra đi bốn mươi năm trước vẫn chưa vơi giọt nước mắt nào cho người chồng và 6 đứa con thơ Tôi không muốn ngửa mặt lên bầu trời này chỉ để niệm Na Mô Tôi không muốn cúi xuống mảnh đất này chỉ để kêu lên Đà Phật Tôi cúi xuống vốc lên một nắm đất trong nắm đất này có xương thịt, có linh hồn của những người đã mất, có giọt nước mắt 40 năm rồi vẫn trong vắt nỗi đau Tôi muốn ném nắm đất này lên bầu trời xanh xanh ngắt một màu không phải để xua đi 40 năm tiếng kêu mất con, tiếng gào mất mẹ cũng không phải để xua đi ám ảnh của dãy nhà kho với hàng trăm tấm thân cháy đen co quắp, không nhận nổi mặt người đến độ các bà mẹ nhìn vào chỉ ang áng con tôi…
Bây giờ xin hãy lặng yên thôi Hãy lặng yên để nghe lời đất kể Đất nước tôi có một thời như thế Làng tôi có một ngày như thế!
|